Đề xuất tăng vốn đầu tư đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng lên 289.000 tỷ đồng
Chính phủ đề xuất điều chỉnh chủ trương đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, nâng tổng mức đầu tư sơ bộ lên 289.333 tỷ đồng, tăng hơn 86.000 tỷ đồng so với phương án đã được Quốc hội thông qua trước đó.
Trong báo cáo thẩm tra, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ nguyên nhân tăng vốn, phương án bố trí nguồn vốn và cho rằng mục tiêu hoàn thành dự án chậm nhất vào năm 2030 là "rất khó khăn".
Tiếp tục Kỳ họp bất thường lần thứ Nhất sáng 6/8, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng, trình Quốc hội Tờ trình điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
Theo tờ trình, Chính phủ đề xuất bổ sung đoạn tuyến Yên Viên - Gia Lâm dài khoảng 8,4 km cùng hai tuyến nhánh kết nối từ mạng đường sắt hiện hữu vào các ga của tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Sau điều chỉnh, dự án có tổng chiều dài tuyến chính khoảng 362,9 km và các tuyến nhánh khoảng 62,9 km, đi qua 6 địa phương gồm Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng.
Đáng chú ý, sơ bộ tổng mức đầu tư được đề xuất nâng từ 203.231 tỷ đồng lên 289.333 tỷ đồng, tăng 86.108 tỷ đồng so với phương án đã được Quốc hội thông qua trước đó, tương đương 42,4%.
Theo phương án mới, tuyến sẽ đầu tư đường đơn từ ga Lào Cai đến ga Bắc Hồng; đường đôi từ ga Bắc Hồng đến ga Nam Hải Phòng và đoạn Yên Viên - Gia Lâm. Tuyến sử dụng khổ đường tiêu chuẩn 1.435 mm, khai thác đồng thời tàu khách và tàu hàng, với tốc độ thiết kế tối đa 160 km/h.
Chính phủ cũng đề nghị điều chỉnh tiến độ thực hiện, tiếp tục lập báo cáo nghiên cứu khả thi từ năm 2025 và phấn đấu hoàn thành toàn bộ dự án vào năm 2030.
Đề nghị làm rõ nguyên nhân tăng hơn 86.000 tỷ đồng
Thẩm tra tờ trình, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết việc Chính phủ đề xuất điều chỉnh chủ trương đầu tư là có cơ sở khi dự án đã cập nhật nhiều yếu tố mới về địa hình, địa chất, quy hoạch, nhu cầu vận tải và phương án kết nối.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát để bảo đảm tính đầy đủ, chính xác của hồ sơ; đồng thời đánh giá sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, hệ thống đường sắt, cảng biển, logistics và bổ sung đánh giá sơ bộ tác động môi trường sau khi mở rộng quy mô dự án.
Đáng chú ý, đối với phương án đầu tư hoàn thiện đường đôi ngay trong giai đoạn 2026-2030, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ bổ sung số liệu và cơ sở tính toán nhằm làm rõ khoản chi phí tăng thêm khoảng 22.814 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, cơ quan thẩm tra cũng yêu cầu làm rõ nguyên nhân khiến tổng mức đầu tư tăng hơn 86.000 tỷ đồng; rà soát khối lượng, đơn giá, tiêu chuẩn kỹ thuật và các khoản chi cho tư vấn, đào tạo, mua sắm để tránh trùng lặp và kiểm soát chi phí.
Mục tiêu hoàn thành năm 2030 là rất khó khăn
Theo báo cáo thẩm tra, nhu cầu vốn của dự án trong giai đoạn 2026-2030 khoảng 224.586 tỷ đồng, trong khi kế hoạch đầu tư công mới bố trí 148.478 tỷ đồng, đồng nghĩa còn thiếu 76.108 tỷ đồng.
Ngoài nguồn vốn ngân sách, dự án dự kiến huy động khoảng 179.737 tỷ đồng vốn vay. Vì vậy, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ xây dựng kế hoạch bố trí vốn phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và đầu tư công trung hạn, bảo đảm an toàn nợ công và khả năng trả nợ. Trường hợp không thu xếp đủ vốn vay, cần có phương án xử lý và định kỳ báo cáo Quốc hội.
Cơ quan thẩm tra cũng yêu cầu làm rõ hiệu quả tài chính của dự án, bao gồm phương án doanh thu, chi phí vận hành, bảo trì, khả năng thu hồi vốn và hiệu quả khai thác của từng tuyến nhánh, thay vì chỉ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội.
Bên cạnh vấn đề nguồn vốn, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng mục tiêu hoàn thành dự án chậm nhất vào năm 2030 là rất khó khăn.
Do đó, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ rà soát toàn bộ tiến độ chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, tái định cư, bố trí vốn, lựa chọn nhà thầu và tổ chức thi công nhằm bảo đảm tính khả thi.
Đối với tuyến nhánh kết nối ga Nam Hải Phòng với ga Nam Đồ Sơn, Ủy ban đề nghị quy định rõ thời điểm triển khai, nguồn vốn, trách nhiệm quản lý và quyết toán; đồng thời làm rõ phương án xử lý phần diện tích đã thu hồi, bồi thường theo hướng tuyến cũ nhưng không còn sử dụng sau điều chỉnh./.
Nguồn tham khảo: Cổng thông tin điện tử Chính phủ