Trong một thời gian khá dài, có vẻ nhiều người dường như ngầm tin rằng khi thế giới bước sâu vào thời đại số, vai trò của năng lượng sẽ giảm đi. Ít nhất họ không còn dành nhiều thời gian nghĩ về nó nữa. Phần mềm nghe có vẻ quan trọng hơn sắt thép.
Dữ liệu nghe có vẻ giá trị hơn dầu mỏ hay khí đốt. AI lại càng tạo cảm giác rằng con người đang dần thoát khỏi những ràng buộc vật chất cũ. Nhưng đó chắc chắn là ảo giác. Chúng ta không hề rời xa thế giới vật chất. Chúng ta chỉ quay lại với nó dưới một hình thức mới, kín đáo hơn và phức tạp hơn.
Ngay lúc này thì nhìn vào Trung Đông là đủ hiểu. Bất ổn quanh Iran không chỉ là chuyện chiến tranh hay đối đầu quân sự. Nó lập tức kéo theo những câu hỏi rất cụ thể về eo biển Hormuz, về giá dầu, về an ninh hàng hải, và về mức độ mong manh của các nền kinh tế phụ thuộc vào những tuyến vận tải năng lượng chiến lược.
Mỗi ngày có gần 20 triệu thùng dầu đi qua Hormuz, và phần lớn lượng dầu khí đi qua tuyến này cuối cùng vẫn chảy về châu Á. Với nhiều nước châu Á, năng lượng vì thế không phải câu chuyện xa xôi hay trừu tượng. Nó nằm ngay trong huyết mạch của tăng trưởng.

Nhưng nếu chỉ dừng ở dầu mỏ thì vẫn là nhìn quá hẹp. Điều đáng nói hơn là trong thế kỷ 21, năng lượng không còn chỉ là câu chuyện của các quốc gia dầu mỏ (petrostates). Nó ngày càng là câu chuyện của những quốc gia điện lực (electrostates) nữa, tức những nước có khả năng tạo ra đủ điện, truyền tải điện ổn định, lưu trữ điện, và nuôi được cả một nền kinh tế số đang ngốn điện với quy mô ngày càng lớn. Chính ở đây, năng lượng trở lại trung tâm của quyền lực, nhưng theo một cách mới.
AI là ví dụ rõ nhất. Người ta hay nói về AI như một cuộc cách mạng của thuật toán hay chip bán dẫn. Không sai, nhưng chưa đủ. Đằng sau mọi mô hình lớn là một hạ tầng rất nặng tính vật chất: sản xuất chip, trung tâm dữ liệu, hệ thống làm mát, lưới điện, trạm biến áp, nước, đất, vốn đầu tư.
Theo IEA, riêng các trung tâm dữ liệu trên thế giới đã tiêu thụ khoảng 415 terawatt-giờ điện trong năm 2024, tương đương khoảng 1,5% tổng điện năng toàn cầu. Đến năm 2030, con số này có thể lên gần 945 terawatt-giờ, tức lớn hơn tổng lượng điện mà cả đất nước Nhật Bản đang dùng mỗi năm hiện nay.
Chỉ riêng chi tiết đó cũng đủ để thấy AI thực ra đứng trên một nền móng rất công nghiệp và rất ngốn năng lượng. Như nhiều người hay đùa trên mạng thì mỗi lần ta gõ prompt là 1 vài cái cây bị đốn, một ít nước lại bốc hơi…
Nếu muốn hình dung cụ thể hơn, một trung tâm dữ liệu AI cỡ lớn 100 MW có thể tiêu thụ lượng điện tương đương khoảng 100.000 hộ gia đình. Nghĩa là một cụm hạ tầng phục vụ tính toán có thể ngốn điện như cả một thị trấn nhỏ. Nhìn theo cách đó, thế giới số không hề “nhẹ đô” hơn thế giới công nghiệp. Trong nhiều trường hợp, nó chỉ là phiên bản mới của chính thế giới ấy, nơi điện thay vì dầu trở thành điều kiện tiên quyết.
Đó là lý do tôi nghĩ chúng ta cần tư duy cởi mở hơn. Năng lượng không còn nên bị nhốt trong một ngăn kéo chính sách hẹp, như thể đó chỉ là chuyện của ngành công thương hay của giới kỹ sư. Nó là chính sách công nghiệp, chính sách công nghệ, chính sách an ninh quốc gia, và cả chính sách đối ngoại.
Một nước muốn có tham vọng AI mà không có nguồn năng lượng ổn định thì sớm muộn cũng chạm trần. Một nước muốn chuyển đổi xanh mà lưới điện yếu, truyền tải chậm, thiếu công suất dự phòng thì cũng sẽ bị thực tế kéo lại. Một nước muốn đạt được tự chủ chiến lược mà quá phụ thuộc vào vài nguồn cung năng lượng hay vài tuyến vận tải sống còn thì sự tự chủ đó, rất có thể là ảo ảnh.
Nhưng an ninh năng lượng không đồng nghĩa với tự cung tự cấp tuyệt đối. Trong một thế giới đan xen sâu như hiện nay, rất ít nước có thể thật sự đứng một mình. Cái quan trọng hơn là sức chống chịu: có đa dạng nguồn cung hay không, có lưới điện đủ khỏe hay không, có khả năng mở rộng hạ tầng đủ nhanh hay không, có dự trữ và phương án dự phòng đủ tốt hay không. Vấn đề không phải là cắt đứt mọi phụ thuộc, mà là giảm mức độ dễ tổn thương khi cú sốc (sớm muộn cũng) đến.
Từ đó mới lộ ra một tầng cạnh tranh rộng hơn. Phía trước rất có thể không chỉ là cuộc đọ sức giữa các cường quốc theo nghĩa quen thuộc, mà còn là sự định hình dần của hai kiểu nhà nước và hai cách hình dung khác nhau về tương lai.
Một bên là những quốc gia vẫn đặt cược tất tay vào nhiên liệu hóa thạch, xem đó là nền tảng khó thay thế được của tăng trưởng, sức mạnh và ảnh hưởng địa chính trị. Bên kia là những quốc gia đang cố xây lợi thế quanh sản xuất điện/lưới điện, quanh năng lực điện hóa nền kinh tế, và toàn bộ hệ sinh thái công nghệ gắn với quá trình đó.
Đây không chỉ là khác biệt về cơ cấu năng lượng. Sâu hơn, nó phản ánh hai tầm nhìn phát triển khác nhau, hai cách tổ chức quyền lực khác nhau, và có thể cả hai logic địa chính trị khác nhau trong thế kỷ 21.
Có thể thế giới sẽ không chứng kiến một cuộc đối đầu ý thức hệ theo kiểu thế kỷ 20. Nhưng rất có thể nó đang tiến dần tới một dạng phân cực mới, nơi các khối cạnh tranh với nhau không chỉ bằng quân sự, thể chế hay công nghệ, mà còn bằng chính cách họ tạo ra, phân phối và sống cùng năng lượng.
Nguồn: Ngô Di Lân








