SSI Research: Nới trần LDR chưa giải được bài toán huy động vốn của ngân hàng

Theo SSI Research, việc áp dụng cơ chế LDR mới có thể mở thêm dư địa cho vay tại nhiều ngân hàng, đặc biệt là Techcombank, MB, VPBank, Vietcombank, BIDV và MSB. Tuy nhiên, việc nới tỷ lệ an toàn chưa giải quyết được khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn.

Trong báo cáo ngày 6/10, SSI Research phân tích tác động của Thông tư 50/2026 thay thế Thông tư 22/2019, với thay đổi đáng chú ý là nâng trần tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) từ 85% lên 95% và điều chỉnh công thức tính.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/12/2026, nhưng trần 95% chỉ áp dụng khi ngân hàng chuyển sang tuân thủ các quy định mới về tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR). Thời điểm chuyển đổi chậm nhất là ngày 1/10/2028; ngân hàng có thể đăng ký áp dụng sớm từ tháng 12/2026 với ngưỡng khởi điểm LCR 50% và NSFR 90%.

Trước khi chuyển đổi, ngân hàng vẫn phải tuân thủ trần LDR 85% theo cơ chế hiện hành.

Phần lớn ngân hàng có thêm dư địa cho vay

Theo công thức mới, vốn chủ sở hữu và vốn vay nước ngoài được đưa vào mẫu số. Nhờ đó, ngân hàng có thể cải thiện LDR thông qua tăng vốn hoặc huy động vốn nước ngoài, bên cạnh thu hút tiền gửi.

Tuy nhiên, mức cải thiện thấp hơn so với dự thảo trước, khi hai khoản này được trừ khỏi tử số. VPBank là trường hợp bị thu hẹp lợi ích tương đối nhiều nhất, do quy mô vốn chủ sở hữu và vốn vay nước ngoài lớn.

Dựa trên số liệu cuối năm 2025, SSI Research ước tính ngoài OCB, các ngân hàng trong phạm vi theo dõi đều có LDR theo công thức mới dưới 90%, bình quân thấp hơn trần 95% khoảng 8 điểm phần trăm.

Dù tỷ lệ tính lại có thể tăng vài điểm phần trăm, mức trần được nâng tới 10 điểm phần trăm giúp phần lớn ngân hàng có thêm dư địa cho vay so với cơ chế cũ. Techcombank, MB, VPBank, Vietcombank, BIDV và MSB là những trường hợp được SSI Research nhấn mạnh có thể hưởng lợi khi áp dụng sớm.

Theo nhóm phân tích, Thông tư 50 cùng các biện pháp nới lỏng gần đây hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, đồng thời tạo thêm dư địa cải thiện biên lãi ròng (NIM) cho ngân hàng có nguồn vốn vững và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao trong giai đoạn đến năm 2028.

OCB chịu tác động khác biệt

OCB là trường hợp đáng chú ý: LDR ước tính theo công thức cũ chỉ trên 70%, nhưng khi áp dụng cách tính mới tiến sát ngưỡng 95%.

Gần như toàn bộ chênh lệch đến từ lượng lớn trái phiếu cấp cao do ngân hàng phát hành không đủ điều kiện vốn cấp 2. Nguồn vốn này được tính trong công thức cũ nhưng bị loại khỏi mẫu số theo cơ chế mới.

Theo báo cáo, chỉ trái phiếu ngân hàng đủ điều kiện ghi nhận là vốn cấp 2 mới được tính vào cơ sở xác định LDR. Trái phiếu cấp cao, thường có kỳ hạn 2–3 năm, không còn được ghi nhận.

Thay đổi này có thể ảnh hưởng đến việc ngân hàng lựa chọn công cụ huy động vốn, nhất là khi lượng lớn trái phiếu đáo hạn trong giai đoạn 2026 - 2027. SSI Research cho rằng đây có thể là một nguyên nhân khiến các ngân hàng ưu tiên phát hành chứng chỉ tiền gửi, bởi công cụ này vẫn được tính vào cơ sở xác định LDR.

Nới tỷ lệ giám sát chưa giải được bài toán vốn

SSI Research đánh giá cơ chế mới là biện pháp nới lỏng tỷ lệ an toàn, không đồng nghĩa với việc bơm thêm thanh khoản vào hệ thống.

Trong bối cảnh chênh lệch giữa tín dụng và tiền gửi lớn, nâng trần LDR có thể cho phép cho vay tiếp tục tăng nhanh hơn huy động. Khả năng thu hút tiền gửi và nguồn vốn trung, dài hạn vì thế vẫn quyết định mức độ mở rộng tín dụng trên thực tế.

Về dài hạn, Thông tư 50 hướng hệ thống tới quản lý thanh khoản theo Basel III. Các chỉ tiêu mới đánh giá độ ổn định của từng nguồn vốn và khả năng chuyển tài sản thành tiền, thay vì chỉ so sánh quy mô cho vay với huy động.

Lộ trình bắt buộc bắt đầu từ ngày 1/10/2028, với LCR tăng dần từ 50% lên 100% vào năm 2033; NSFR tăng từ 90% lên 100% trong giai đoạn 2028–2030. Khi đáp ứng đầy đủ mức 100% của cả hai chỉ tiêu, ngân hàng được miễn tuân thủ giới hạn LDR nhưng vẫn phải tính toán và báo cáo cho NHNN.

Theo SSI Research, giải pháp căn cơ còn nằm ở phát triển nguồn vốn ngoài ngân hàng để phục vụ nhu cầu đầu tư dài hạn. Tuy nhiên, thị trường vốn chỉ giúp giảm gánh nặng cho hệ thống khi thu hút được các nhà đầu tư ngoài ngành ngân hàng.

Nếu ngân hàng vẫn là bên mua trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính quyền địa phương hoặc trái phiếu dự án, rủi ro tín dụng chỉ thay đổi hình thức và tiếp tục nằm trong hệ thống./.