Tiền đi đâu?
Thông thường, tín dụng và tiền gửi (huy động) có xu hướng tăng cùng nhau. Khi ngân hàng cho doanh nghiệp vay 1.000 tỷ đồng, ngân hàng đồng thời ghi nhận 1.000 tỷ đồng dư nợ và tạo ra 1.000 tỷ đồng tiền gửi trên tài khoản doanh nghiệp.
Sau đó, doanh nghiệp dùng tiền để mua hàng, trả lương hay thanh toán cho nhà cung cấp. Nếu các khoản thanh toán vẫn nằm trong hệ thống ngân hàng trong nước, tiền chỉ chuyển từ tài khoản này sang tài khoản khác.
Vì vậy, khi thấy tín dụng tăng nhanh hơn huy động, câu hỏi quan trọng không chỉ là “tiền đi đâu?” mà là tín dụng mới đang được sử dụng vào đâu?

Nếu tín dụng được dùng cho hoạt động kinh doanh thực, doanh nghiệp vay tiền để xây nhà máy, mua máy móc, nguyên vật liệu, trả lương… Khoản tiền này tạo doanh thu cho nhà cung cấp và thu nhập cho người lao động, sau đó tiếp tục được chi tiêu và gửi vào ngân hàng.
Tín dụng mới vì thế có khả năng tạo ra dòng tiền và hoạt động kinh tế mới, nó sẽ làm tăng cả tiền gửi chứ không chỉ làm tăng dư nợ và thường không dẫn đến sự chênh lệch quá lớn giữa huy động và tín dụng.
Nếu doanh nghiệp vay để đảo nợ trong nước, ví dụ vay ngân hàng B để trả khoản vay cũ tại ngân hàng A, thì cơ chế lại khác một chút. Khoản vay mới tạo ra tiền gửi mới nhưng tiền này ngay sau đó được chuyển sang ngân hàng A để tất toán khoản vay cũ. Kết quả là nợ cũ giảm, nợ mới tăng, còn tiền gửi chủ yếu chỉ chuyển từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Nếu hai khoản vay có giá trị tương đương, việc đảo nợ trong nước cũng không tự tạo ra chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động.
Nhưng nếu doanh nghiệp vay ngân hàng trong nước để trả một khoản nợ nước ngoài, câu chuyện lại hoàn toàn khác.
Ví dụ, doanh nghiệp vay ngân hàng trong nước 1.000 tỷ đồng. Khi giải ngân, tín dụng tăng 1.000 tỷ và tiền gửi cũng tăng 1.000 tỷ. Nhưng doanh nghiệp sau đó chuyển 1.000 tỷ này ra nước ngoài để trả chủ nợ. Khi đó, tiền gửi rời khỏi hệ thống ngân hàng trong nước, trong khi khoản tín dụng 1.000 tỷ mà doanh nghiệp vay vẫn còn trên bảng cân đối của ngân hàng. Kết quả là tín dụng tăng nhưng huy động trong nước không tăng tương ứng.
Trường hợp thứ 4 là vay để trả lãi. Giả sử doanh nghiệp phải trả 1000 tỷ đồng tiền lãi nhưng hoạt động kinh doanh không tạo đủ dòng tiền. Doanh nghiệp vay thêm 1000 tỷ để thanh toán khoản lãi này. Khi giải ngân, tín dụng và tiền gửi cùng tăng 1000 tỷ. Nhưng sau khi trả lãi cho ngân hàng, tiền gửi của doanh nghiệp giảm 1000 tỷ, trong khi khoản nợ 1000 tỷ mới vẫn tồn tại. Do đó, tín dụng có thể tăng mà tiền gửi không tăng tương ứng.
4 trường hợp này cho thấy cùng là “tín dụng tăng” nhưng tác động lên nền kinh tế hoàn toàn khác nhau. Vay để đầu tư có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu và thu nhập mới. Đảo nợ trong nước chủ yếu thay thế khoản nợ cũ và không tự làm tín dụng - huy động bị lệch. Vay để trả nợ nước ngoài có thể làm tín dụng trong nước tăng nhưng tiền gửi rời khỏi hệ thống và huy động không tăng. Còn vay để trả lãi cũng làm dư nợ tăng trong khi tiền gửi không tăng tương ứng.
Vì vậy, khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, điều cần nhìn không chỉ là quy mô tín dụng mà là dòng tiền sau khi tín dụng được giải ngân đang đi đâu. Lúc đó chúng ta sẽ trả lời được câu hỏi “Tiền đi đâu?”./.
