Từ 1/7/2026, ai được mua nhà ở xã hội?

Từ ngày 1/7/2026, phạm vi đối tượng được mua nhà ở xã hội sẽ được mở rộng theo quy định của Luật Dân số 2025. Theo đó, phụ nữ đã kết hôn sinh đủ hai con tại các địa phương có mức sinh thấp sẽ được bổ sung vào danh sách đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội.

Trước đó, theo quy định của Luật Nhà ở 2023, có 10 nhóm đối tượng được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, bao gồm:

- Người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ thuộc diện được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của pháp luật.

- Hộ nghèo, hộ cận nghèo tại khu vực đô thị.

- Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị.

- Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp.

- Cán bộ, công chức, viên chức.

- Người đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định, trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm pháp luật.

- Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất, phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở nhưng chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở hoặc đất ở.

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; công nhân công an; công chức, công nhân và viên chức quốc phòng; người làm công tác cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước, nếu chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dành cho lực lượng vũ trang.

- Hộ nghèo, hộ cận nghèo tại khu vực nông thôn. Hộ nghèo, hộ cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu.

Như vậy, từ ngày 1/7/2026, tổng số đối tượng được hưởng chính sách mua nhà ở xã hội sẽ tăng từ 10 lên 11 nhóm theo quy định của pháp luật.

Điều kiện về thu nhập để được mua nhà ở xã hội

Theo Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 261/2025/NĐ-CP và Nghị định 54/2026/NĐ-CP, điều kiện về thu nhập đối với người mua nhà ở xã hội được quy định như sau:

Đối với người thu nhập thấp, công nhân, người lao động, cán bộ, công chức, viên chức

Trường hợp người đứng đơn chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân, thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận không được vượt quá 20 triệu đồng/tháng.

Trường hợp người đứng đơn độc thân nhưng đang trực tiếp nuôi con chưa thành niên, thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận không được vượt quá 30 triệu đồng/tháng.

Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn, tổng thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận của cả hai vợ chồng không được vượt quá 40 triệu đồng/tháng.

Mức thu nhập nêu trên được xác định căn cứ vào bảng lương, bảng công hoặc chứng từ thu nhập do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi người lao động làm việc xác nhận.

Thời gian xác định thu nhập là 12 tháng liên tiếp trước thời điểm nộp hồ sơ hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận điều kiện mua nhà ở xã hội.

Đáng chú ý, UBND cấp tỉnh được quyền điều chỉnh các mức thu nhập này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương, nhưng không vượt quá mức chênh lệch giữa thu nhập bình quân đầu người của địa phương so với mức bình quân của cả nước.

Đồng thời, địa phương cũng có thể ban hành cơ chế ưu tiên đối với các hộ gia đình có từ ba người phụ thuộc trở lên.

Đối với người thu nhập thấp không có hợp đồng lao động

Trường hợp người thu nhập thấp tại khu vực đô thị không có hợp đồng lao động, mức thu nhập bình quân hằng tháng cũng không được vượt quá 20 triệu đồng/tháng.

Việc xác nhận thu nhập sẽ do Công an cấp xã nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống thực hiện theo quy định.

Đối với lực lượng vũ trang

Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng; người làm công tác cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước, điều kiện thu nhập để mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội được thực hiện theo quy định riêng đối với nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân tại Điều 67 Nghị định 100/2024/NĐ-CP.

Điều kiện về nhà ở để được mua nhà ở xã hội từ năm 2026

Theo Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 32 Nghị định 54/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 9/2/2026), người có nhu cầu mua nhà ở xã hội phải đáp ứng một trong hai điều kiện về nhà ở sau:

Chưa sở hữu nhà ở

Người đăng ký mua nhà ở xã hội và vợ hoặc chồng của người đó (nếu có) không được đứng tên sở hữu nhà ở tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội.

Việc xác định chưa có nhà ở được căn cứ vào thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Trong thời hạn 7 ngày kể từ khi nhận được đề nghị xác nhận, cơ quan có thẩm quyền sẽ kiểm tra và xác nhận tình trạng sở hữu nhà ở của người đăng ký.

Đã có nhà ở nhưng diện tích quá chật

Trường hợp người đăng ký đã có nhà ở thuộc sở hữu của mình, vẫn có thể được xem xét mua nhà ở xã hội nếu diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn 15 m² sàn/người.

Diện tích bình quân được tính trên tổng số thành viên cùng đăng ký thường trú tại căn nhà đó, bao gồm:

Người đứng đơn; Vợ hoặc chồng; Cha, mẹ (nếu cùng đăng ký thường trú); Các con (nếu cùng đăng ký thường trú).

Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận diện tích nhà ở bình quân đầu người, UBND cấp xã có trách nhiệm kiểm tra và xác nhận theo quy định.

Không được mua nhà ở xã hội để đầu tư hoặc tích luỹ

Không được mua nhà ở xã hội để đầu tư hoặc tích luỹ

Những điểm cần đặc biệt lưu ý

Một đối tượng chỉ được: Mua 01 căn nhà ở xã hội; hoặc Thuê mua 01 căn nhà ở xã hội.

Không được mua nhiều căn để đầu tư hoặc tích lũy.

Người mua nhà ở xã hội: Không được bán lại trong thời hạn tối thiểu 5 năm kể từ ngày thanh toán đủ tiền mua nhà. Nếu muốn bán trong thời gian này chỉ được bán cho: Chủ đầu tư dự án; hoặc Người thuộc diện được mua nhà ở xã hội.

Giá bán tối đa không vượt quá giá đã mua.

Sau 5 năm, khi đã được cấp Giấy chứng nhận và đủ thời gian theo quy định, người sở hữu có thể bán theo giá thị trường.

Vì sao nhà ở xã hội không chỉ dành cho người thu nhập thấp?

Nhiều người nghĩ nhà ở xã hội là chính sách dành cho người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ phát triển đô thị, đây thực chất là một chính sách nhằm giữ chân lực lượng lao động cốt lõi của thành phố.

Một đô thị không được vận hành bởi những tòa nhà cao tầng hay các khu thương mại hiện đại, mà được vận hành bởi hàng triệu con người đang làm việc mỗi ngày.

Singapore coi nhà ở xã hội là một phần của hạ tầng cạnh tranh quốc gia

Đó là công nhân trong các nhà máy, giáo viên trong trường học, y tá tại bệnh viện, kỹ sư trong các doanh nghiệp, cán bộ công chức trong các cơ quan nhà nước và những người trẻ đang bắt đầu sự nghiệp. Họ không phải là những người có thu nhập thấp nhất xã hội, nhưng cũng thường không đủ khả năng tiếp cận các sản phẩm nhà ở thương mại khi giá bất động sản tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập.

Sâu xa hơn, nhà ở xã hội là câu chuyện về năng lực cạnh tranh của một thành phố. Một thành phố có thể xây rất nhiều khu đô thị cao cấp, nhưng nếu những người đang trực tiếp vận hành nền kinh tế không thể mua nổi nhà ở thì sớm hay muộn đô thị đó cũng sẽ đối mặt với những vấn đề lớn.

Doanh nghiệp khó tuyển dụng lao động, các dịch vụ công thiếu nhân lực, chi phí sinh hoạt ngày càng cao và người trẻ dần mất động lực gắn bó lâu dài. Khi đó, bài toán không còn là thiếu nhà ở mà là thiếu nguồn nhân lực chất lượng để duy trì sự phát triển.

Thực tế, nhiều quốc gia phát triển đã xem nhà ở giá phải chăng là một phần quan trọng của chiến lược phát triển đô thị. Singapore phát triển hệ thống nhà ở công cộng không chỉ để giải quyết nhu cầu chỗ ở mà còn để bảo đảm tầng lớp lao động và trung lưu có cơ hội sở hữu nhà.

Nhiều thành phố lớn trên thế giới cũng coi việc tạo điều kiện an cư cho giáo viên, nhân viên y tế, công nhân và người trẻ là một khoản đầu tư cho tương lai chứ không đơn thuần là một chính sách an sinh.

Vì vậy, câu hỏi "Ai được mua nhà ở xã hội?" thực chất không chỉ là câu hỏi về đối tượng được hưởng chính sách. Đó là câu hỏi về việc một thành phố muốn giữ lại những ai để phát triển trong 10 đến 20 năm tới./.