Vì sao Thái Lan phải duy trì lãi suất thấp bậc nhất thế giới?
Từng được ca ngợi là một “mãnh hổ châu Á”, Thái Lan đang đứng trước nguy cơ rơi vào vòng xoáy tăng trưởng thấp, lạm phát thấp và lãi suất duy trì ở vùng đáy.
Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BoT) ngày 26/8 tiếp tục giữ nguyên lãi suất chính sách ở mức 1%, đánh dấu cuộc họp thứ ba liên tiếp không điều chỉnh. Đây là một trong những mức lãi suất thấp nhất thế giới hiện nay.
Diễn biến này trái ngược với xu hướng thắt chặt tiền tệ tại nhiều nền kinh tế nhằm kiềm chế áp lực giá cả do xung đột ở Trung Đông.
Thậm chí, một số chuyên gia dự báo lãi suất của Thái Lan có thể sớm thấp hơn Nhật Bản. Sau nhiều năm duy trì lãi suất âm để chống giảm phát, Nhật Bản đã nâng lãi suất lên 1% vào tháng 6 và có thể tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Lãi suất điều hành của Thái Lan và Nhật Bản cùng ở mức 1% (Đồ họa: Financial Times)
Nguy cơ “Nhật Bản hóa”
Lãi suất thấp phản ánh nguy cơ Thái Lan rơi vào tình trạng “Nhật Bản hóa” (Japanification) – thuật ngữ chỉ một nền kinh tế mắc kẹt trong thời gian dài với tăng trưởng thấp, lạm phát yếu và lãi suất sát đáy.
Trước khi xung đột Trung Đông bùng phát, Thái Lan đã trải qua 12 tháng giảm phát liên tiếp. Giá cả tăng trở lại sau khi chiến sự đẩy chi phí năng lượng đi lên, nhưng áp lực này đang hạ nhiệt. Lạm phát toàn phần tháng 7 giảm tháng thứ ba liên tiếp, xuống còn 1,95%.
Theo bà Louise Loo, Trưởng bộ phận kinh tế châu Á tại Oxford Economics, rủi ro “Nhật Bản hóa” hiện diện tại nhiều nền kinh tế châu Á do tốc độ già hóa dân số nhanh. Tuy nhiên, Thái Lan chịu sức ép lớn hơn bởi nợ hộ gia đình đã ở mức rất cao.
Ông Nond Prueksiri, chuyên gia kinh tế cấp cao tại Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế của Siam Commercial Bank, cho rằng lãi suất thấp tại Thái Lan không còn là vấn đề mang tính chu kỳ mà đã trở thành vấn đề cơ cấu.
Dân số già, nợ cao và nhu cầu yếu khiến người dân không muốn hoặc không còn khả năng tăng chi tiêu. Vì vậy, ngay cả khi lãi suất thấp, dòng tiền cũng khó chuyển hóa thành tiêu dùng và đầu tư.
Trong nhiều năm qua, kinh tế Thái Lan chỉ tăng trưởng quanh mức 2% mỗi năm. Ngân hàng Thế giới dự báo GDP nước này tăng khoảng 1,6% trong năm 2026, do thương mại toàn cầu suy yếu, nợ hộ gia đình cao và ngành du lịch phục hồi chậm.
Đại dịch Covid-19 từng giáng đòn mạnh vào du lịch – một trong những trụ cột của nền kinh tế Thái Lan. Trong khi đó, xuất khẩu ngày càng chịu sức ép trước hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc và sự nổi lên của các trung tâm sản xuất trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam.
Thuế quan của Mỹ cùng lực lượng lao động thu hẹp cũng gây thêm khó khăn cho hoạt động sản xuất trong nước.
Ông Don Nakornthab, Trợ lý Thống đốc BoT phụ trách chính sách tiền tệ, đánh giá tăng trưởng kinh tế vẫn “thấp và không đồng đều”. Ngân hàng trung ương còn dư địa hạ lãi suất nếu khủng hoảng xảy ra, nhưng chính sách tiền tệ đã gần chạm giới hạn trong việc hỗ trợ tăng trưởng.
Điều này đồng nghĩa Thái Lan cần nhiều hơn các biện pháp tài chính có mục tiêu và chính sách kích thích tài khóa từ chính phủ.
“Già trước khi giàu”
Thách thức lớn nhất của Thái Lan nằm ở cơ cấu dân số. Tỷ lệ sinh của nước này đã xuống mức thấp nhất trong 75 năm, trong khi mỗi phụ nữ trung bình chỉ sinh khoảng 1,2 con, thấp hơn đáng kể mức 2,1 con cần thiết để duy trì quy mô dân số.
Một số dự báo cho rằng dân số Thái Lan có thể giảm từ 67 triệu người hiện nay xuống còn 30 triệu người trong 50 năm tới.
Tỷ lệ người trên 65 tuổi đã tăng gấp đôi trong giai đoạn 2000–2020 và được dự báo tiếp tục tăng gấp đôi vào năm 2040, lên khoảng 26% dân số.
Những vấn đề này có nhiều điểm tương đồng với Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, khác biệt nằm ở chỗ Thái Lan đang già hóa khi chưa trở thành một quốc gia phát triển.
Gánh nặng nợ càng khiến bài toán trở nên khó giải. Nợ hộ gia đình của Thái Lan hiện tương đương khoảng 86% GDP, cao nhất trong nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, theo HSBC.
“Thông thường, một phần lớn thu nhập của các hộ gia đình phải được dành để trả nợ gốc. Điều này đã hạn chế tiêu dùng”, ông Aris Dacanay, chuyên gia kinh tế cấp cao phụ trách ASEAN tại HSBC, cho biết.
Trong bối cảnh thu nhập và tiền lương tăng chậm, nhiều người dân phải vay để trang trải chi phí sinh hoạt. Phần lớn thu nhập sau đó được dành để trả nợ gốc và lãi, khiến sức mua bị thu hẹp.
Nhu cầu yếu tiếp tục tác động ngược trở lại doanh nghiệp. Các công ty trì hoãn kế hoạch mở rộng vì không thể trông chờ vào thị trường nội địa, đồng thời khó chuyển phần chi phí tăng thêm sang người tiêu dùng.
Nợ cao cũng làm suy yếu tác dụng của chính sách tiền tệ. Dù lãi suất đã xuống thấp, hộ gia đình vẫn không muốn vay thêm, còn ngân hàng thận trọng hơn khi cấp tín dụng. Vì vậy, việc hạ lãi suất khó tạo ra cú hích đủ lớn cho tiêu dùng, đầu tư và lạm phát.
Trong trường hợp này, Chính phủ Thái Lan cần tăng chi tiêu để hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, dư địa thực hiện các gói kích thích cũng không còn nhiều, do nợ công đang tiến gần mức trần tự đặt ra là 70% GDP. Chính phủ vì thế có thể phải thu hẹp một số chương trình hỗ trợ từ năm tới.
Các chuyên gia dự báo Ngân hàng Trung ương Thái Lan sẽ duy trì lãi suất ở mức 1% đến hết năm sau. Nếu chậm cải cách để nâng năng suất, ứng phó với tình trạng già hóa dân số và cải thiện sức cạnh tranh, Thái Lan có thể tiếp tục mất vị thế trước các nền kinh tế khác trong khu vực./.
Nguồn tham khảo: Financial Times