Sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ngày 9/4, làn sóng giảm lãi suất đã lan rộng toàn hệ thống. Trong đó, mức điều chỉnh giảm sâu nhất lên tới 3%/năm đối với lãi suất cho vay, và khoảng 0,5-1%/năm với lãi suất huy động.
Ngân hàng | Giảm huy động | Giảm cho vay | Ghi chú |
Agribank | 0,5% | 0,5% | Kỳ hạn từ 24 tháng trở lên, từ khoảng 13/4 |
Vietcombank | 0,5% | Chưa nêu rõ | Kỳ hạn 24 tháng (xuống 6%/năm), hiệu lực từ 13/4 |
BIDV | 0,5% | Chưa nêu rõ / cam kết giảm | Kỳ hạn từ 24 tháng trở lên |
VietinBank | 0,5% | Chưa nêu rõ / cam kết giảm | Kỳ hạn từ 24 tháng trở lên, từ khoảng 13/4 |
SeABank | 0,5% | Từ 10/4, chủ yếu kỳ hạn từ 6 tháng trở lên | |
LPBank | 0,3%–1,0% | Từng bước giảm | Từ 10/4 (giảm mạnh nhất đợt này, đặc biệt kỳ hạn dài 36–60 tháng) |
Sacombank | ~0,5% | ~0,5% | Từ 10/4, nhiều kỳ hạn (giảm 0,3% ở 6–11 tháng, 0,5% ở 12–18 tháng) |
Techcombank | 0,1%–0,5% | Kỳ hạn 3–36 tháng (0,1% kỳ hạn ngắn, tới 0,5% kỳ hạn dài) | |
VPBank / Cake | 0,3%–0,5% | Kỳ hạn 6–36 tháng, từ 10/4 | |
BVBank | 0,3%–0,5% | Từ 11/4 | |
ABBank | 0,05%–0,5% | Từ 11/4 | |
KienlongBank | 0,2% | Tới đa 1,0%–1,2% | Từ 11/4 |
TPBank | 0,1%–0,2% | Cam kết giảm | Từ 11/4 |
SHB | 0,2%–0,4% | Từ 11/4, kỳ hạn 6–36 tháng | |
Eximbank | 0,5% | Kỳ hạn 18–36 tháng | |
BaoViet Bank | 0,3% | Kỳ hạn 6–36 tháng | |
Nam A Bank | 0,1%–0,5% | Tối đa 3,0% | Từ 11/4 |
NCB | 0,1% | Kỳ hạn 6–60 tháng | |
VietABank | 0,5% | Kỳ hạn 6–36 tháng | |
PVcomBank | 0,5% | Từ 11/4, kỳ hạn từ 6 tháng trở lên | |
MB | 0,1%–0,5% | Cam kết giảm | Nhập cuộc giảm cùng nhóm lớn, từ khoảng 12–13/4 |
Đối với nhóm Big 4, Vietcombank giảm 0,5%/năm lãi suất kỳ hạn 24 tháng, còn 6%/năm. Agribank cũng giảm 0,5%/năm với các kỳ hạn từ 24 tháng trở lên, đưa lãi suất về 6,5%/năm. Ngân hàng này tiên phong giảm cả lãi suất cho vay 0,5%, vì dùng lãi huy động kỳ hạn 24 tháng làm tham chiếu
Cùng xu hướng, BIDV và VietinBank điều chỉnh giảm 0,5%/năm ở nhóm kỳ hạn dài.
Ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, MB giảm 0,1–0,5%/năm tùy kỳ hạn; Techcombank hạ 0,1%/năm với kỳ hạn ngắn và tới 0,5%/năm ở kỳ hạn 6–36 tháng; Sacombank giảm 0,3–0,5%/năm. Một số ngân hàng điều chỉnh mạnh hơn như LPBank giảm tới 1%/năm ở kỳ hạn 36–60 tháng, Eximbank giảm 0,5%/năm với kỳ hạn dài.
Tính đến nay, hơn 20 ngân hàng đã giảm lãi suất huy động sau cuộc họp với NHNN, với biên độ phổ biến 0,1–0,5%/năm. Sau điều chỉnh, mặt bằng lãi suất mới hình thành: kỳ hạn ngắn quanh 4–4,7%/năm; kỳ hạn 6–12 tháng phổ biến 6–7%/năm; mức trên 7%/năm chỉ còn ở một số kỳ hạn dài.
Thực tế, mặt bằng lãi suất huy động đã tăng “nóng” kể từ cuối năm ngoái và duy trì xu hướng tăng trong quý đầu năm. Trước khi xuất hiện làn sóng điều chỉnh giảm, phần lớn ngân hàng đã nâng lãi suất tiền gửi thêm khoảng 1–3%/năm so với thời điểm cuối năm.
Không chỉ dừng ở biểu lãi suất niêm yết trên website, một số ngân hàng tư nhân còn chào mời khách gửi tiền với mức lãi suất lên tới 9%/năm, áp dụng cho các khoản tiền gửi từ vài trăm triệu đồng./.








